Thư Viện Y Học

Diễn đàn trao đổi thảo luận kiến thức y học

Welcome to thuvienyhoc.forumvi.com! :: Have a nice day!

  • Gửi bài mới
  • Trả lời chủ đề này

Sổ bụng

Share
avatar
Admin
Admin
Admin

Tổng số bài gửi : 159
Join date : 07/11/2014
Age : 30
Đến từ : DN

Sổ bụng

Bài gửi by Admin on Wed Nov 19, 2014 7:36 pm

SỔ BỤNG
 
1. Đại cương
- Định nghĩa: sổ bụng là tình trạng tạng chui ra ngoài qua vết mổ cũ, khác với các thoát vị thành bụng ở chỗ: khối tạng không được phúc mạc thành bao phủ mà trực tiếp  ngay với tổ chức xơ của vùng mổ; không có đủ các thành phần của thoát vị như cổ túi, túi thoát vị.
-  Có hai loại sổ bụng: sổ bụng do chấn thương, vết thương, vết mổ và sổ bụng tự phát hay bẩm sinh.
- Sổ bụng khác với lòi phủ tạng là còn có lớp da thành bụng che phủ tạng.
- Phân biệt với thoát vị sau phẫu thuật: là tình trạng tạng chui ra ngoài qua vết mổ cũ mà vẫn có phúc mạc thành bao bọc, tạo nên túi  thoát vị, có thể có cổ túi hoặc không có.
     2. Nguyên nhân
     2.1. Sổ bụng do vết thương, chấn thương, vết mổ:
- Sổ bụng do tai nạn: chấn thương, vết thương gây đứt rách phúc mạc, cân cơ thành bụng.
- Sổ bụng sau phẫu thuật: do đường khâu cân cơ của thành bụng không liền được, hai mép vết mổ bị  toác rộng ra, chỉ có lớp tổ chức xơ sẹo mỏng hoặc da che phủ vết mổ. Các yếu tố làm vết mổ không liền tốt là:
+ Nhiễm khuẩn làm toác vết mổ: thường gặp những vết mổ nhiễm khuẩn trong các phẫu thuật vết thương thấu bụng, các loại viêm phúc mạc, viêm ruột thừa cấp đã có mủ, hoặc phẫu thuật các tạng dễ nhiễm khuẩn như đại tràng, tiểu tràng…
+ Đối với các đường mổ vào ổ bụng: mổ đường trắng giữa ít bị nhiễm khuẩn nhất, các đường mổ ngang (cắt cơ nhiều) kém liền hơn, dễ nhiễm khuẩn và hay gây thoát vị sau phẫu thuật. Người ta cũng thấy rằng, những vết mổ khâu ít lớp thì tỷ lệ thoát vị sau mổ ít hơn so với những vết mổ được khâu nhiều lớp.
+ Cơ thể bệnh nhân suy nhược, già yếu vết mổ khó lành
+ Do cân cơ thành bụng bị căng nên vết mổ lành kém, chậm (sau phẫu thuật bệnh nhân bị trướng bụng do liệt, bị ho nhiều.
+ Do kỹ thuật: khâu không lấy được các lớp cân, buộc không chặt, mép cân còn dãn cách sau khi buộc.
     2.2. Sổ bụng tự phát
- Sổ bụng sơ sinh: do ngừng phát triển của thành bụng trước ở thời kì bào thai, gồm lộ tạng rốn, những khuyết nhỏ cân cơ ở đường trắng giữa trên rốn, bao cân cơ thẳng to, các cơ chéo.
- Sổ bụng ở trẻ em: do còi xương, bụng trở nên nhẽo và phình ra ở chỗ đường trắng, làm cho hai cơ thẳng to bị cách xa nhau. Ngoài ra, còn do bệnh bại liệt gây thoái hóa một số cơ thành bụng trước, làm cho thành bụng phồng lên (nhất là khi khóc), sờ nắn thấy thành bụng nhão hoàn toàn.
- Sổ bụng ở người lớn: do bệnh nhão cơ ở người già, bại liệt, phụ nữ sinh đẻ nhiều lần, người béo bệu. Có những chỗ cơ bị tách xa nhau, càng ngày càng rộng có thể đến 8 - 10 cm.
     3. Giải phẫu bệnh lý 
- Vị trí: sổ bụng ở ngay vùng sẹo cũ, hình bầu dục hoặc tròn, có thể rất to hoặc nhỏ tùy theo cân cơ ở vết mổ bị tách rời nhiều hay ít.
- Bờ của vết mổ cũ đã bị tách ra do cân cơ xơ hoá dần tạo nên, lớp phúc mạc thành bị dính và xơ hoá dọc theo chu vi, còn bề mặt thì không có  phúc mạc chỉ có tạng dính vào vùng sẹo xơ.
- Vùng sổ bụng có kích thước và hình dáng khác nhau, tùy theo từng trường hợp, thường có nhiều ngõ ngách.
- Lớp bọc ngoài: chỉ là lớp sẹo xơ mỏng, lớp này có lúc chỉ có da, tổ chức dưới da cùng với vết sẹo ở giữa nhưng sẹo cũng bị dãn rộng và mỏng.
- Tạng : chủ yếu là ruột, có thể là mạc nối lớn.
 
Hình sổ bụng
     4. Triệu chứng
- Chẩn đoán sổ bụng thường dễ, thấy khối phồng ở ngay đường mổ cũ, khối phồng to rõ khi bệnh nhân rặn, nhưng ấn thì xẹp lại ngay, nhưng khi thả tay thì khối phồng lại xuất hiện hoặc chỉ  rặn nhẹ đã lồi ra, sờ có cảm giác tạng ở ngay dưới tay vì lớp sẹo xơ mỏng. Vì ruột dính vào lớp sẹo, nên không đẩy hoàn toàn vào trong bụng được.
- Sờ được bờ của vùng sổ bụng dễ dàng, thấy bờ xơ và chắc.
     5.  Điều trị phẫu thuật
       - Bóc tách tạng dính vào vùng sẹo cũ: bóc dọc theo bờ của vùng sổ bụng, cắt lọc phần xơ sẹo (lấy hết tổ chức xơ nhưng tiết kiệm tối đa tổ chức cân), chú ý bảo vệ cân lành thành bụng.
       - Tái tạo thành bụng: để đảm bảo kết quả cần phải khâu, khâu bằng chỉ không tiêu, kéo hai lớp cân cơ của vết mổ cũ vào sát với nhau che kín lỗ khuyết hổng. Đóng bụng phải khâu từng lớp chỉ chắc chắn, thắt chặt nút chỉ; để đạt yêu cầu này, có thể phải làm thủ thuật chuyển vạt cân bằng cách tạo các mắt lưới ở cân thành bụng hai bên. Trường hợp vùng sổ bụng khuyết hổng quá lớn, không thể làm thủ thuật chuyển vạt cân được, một số tác giả đã dùng các lưới chất dẻo (mesh) để vá chỗ khuyết hổng thành bụng.
       - Phẫu thuật tái tạo lại thành bụng cho những bệnh nhân sổ bụng lớn là một phẫu thuật khó khăn, tỷ lệ thành công hạn chế, đôi khi phải phẫu thuật lại nhiều lần, nhất là những người già yếu, khuyết hổng thành bụng lớn, vết mổ cũ bị nhiễm khuẩn lâu ngày và tiềm tàng; nên khi phẫu thuật lại cần chú ý:
+ Đánh giá nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ dựa vào lâm sàng và các xét nghiệm. Nếu nhiễm khuẩn vết mổ, thì coi như phẫu thuật thất bại.
+ Thời gian từ lúc lành vết mổ cũ đến lúc phẫu thuật lại, phải từ 6 tháng đến 1 năm. Nếu bệnh nhân có nhiều vết mổ ở bụng (do vết thương chiến tranh), thì nên chờ sau 2 - 3 năm mới mổ lại.
+ Nên phẫu thuật dưới gây mê nội khí quản, trong phẫu thuật phải tránh làm tổn thương các quai ruột dính vào vùng mổ cũ.
Tai ve
Chia sẻ
  • Gửi bài mới
  • Trả lời chủ đề này

Hôm nay: Thu Dec 14, 2017 10:11 pm