Thư Viện Y Học

Diễn đàn trao đổi thảo luận kiến thức y học

Welcome to thuvienyhoc.forumvi.com! :: Have a nice day!

    Bệnh nhược cơ

    Share
    avatar
    Admin
    Admin
    Admin

    Tổng số bài gửi : 159
    Join date : 07/11/2014
    Age : 30
    Đến từ : DN

    Bệnh nhược cơ

    Bài gửi by Admin on Mon Nov 10, 2014 11:18 pm

    Tải về



    BỆNH NHƯỢC CƠ

    I. Đại cương
      Bệnh nhược cơ (Myasthenia gravis) được coi là một bệnh do rối loạn tự miễn dịch, trong đó các tự kháng thể gây tổn thương các thụ cảm thể Achetylcholine ở màng sau Sinap dẫn đến rối loạn quá trình dẫn truyền qua Sinap thần kinh-cơ. Triệu chứng nổi bật của bệnh là các cơ vân yếu nhược và hoạt động chóng mỏi.
      Bệnh thường đi kèm với các bất thường của Tuyến ức. Nữ bị nhiều hơn Nam. Theo các nghiên cứu khác nhau, tỉ lệ mắc bệnh trong dân cư vào khoảng 0,5-5/100.000.
    II. Sinh lý bệnh:
              + Bình thường, Acetylcholine (Ach) được tổng hợp ở đầu tận cùng của dây thần kinh vận động và được giữ trong các nang (quanta), mỗi nang chứa khoảng 10.000 phân tử Ach. Khi một kích thích đi tới đầu tận cùng dây thần kinh vận động, nó sẽ làm cho khoảng 150-200 nang giải phóng ra Ach (nếu các kích thích lặp đi lặp lại, số Ach giải phóng ra sau mỗi kích thích sẽ giảm dần, hiện tượng này được gọi là hiện tượng “giảm Ach tiền Sinap”). Các Ach giải phóng ra sẽ kết hợp với thụ cảm thể Ach (Achetylcholine Receptor: Achr) ở màng sau Sinap thần kinh-cơ. Việc kết hợp này làm mở các kênh trong Achr và cho các Cation (chủ yếu là Na+) đi vào gây khử cực ở màng sau Sinap thần kinh cơ. Nếu sự khử cực này đủ lớn thì sẽ gây ra một điện thế hoạt động để làm co cơ. Quá trình này kết thúc nhanh chóng bằng việc Ach tách ra khỏi Achr và bị thuỷ phân bởi men Cholinesterasa. Lúc này Sinap thần kinh cơ lại sẵn sàng tiếp nhận kích thích mới để quá trình co cơ tiếp diễn.
              + Trong bệnh Nhược cơ, tổn thương cơ bản là suy giảm số lượng Achr hoạt động ở màng sau Sinap, do đó mặc dù số lượng Ach giải phóng ra vẫn bình thường, nhưng khả năng tạo ra điện thế khử cực đủ lớn để co cơ ở màng sau Sinap lại bị giảm, kết hợp với hiện tượng “giảm Ach tiền Sinap” sẽ làm khả năng co cơ ngày càng giảm đi, dù các kích thích vẫn đến được đầu tận cùng dây thần kinh vận động một cách bình thường.
              + Việc suy giảm số lượng Achr hoạt động ở màng sau Sinap thần kinh-cơ trong bệnh Nhược cơ xảy ra do tác dụng của các tự kháng thể kháng Achr. Các tự kháng thể này làm giảm số lượng Achr hoạt động ở màng sau Sinap thần kinh-cơ bằng các cơ chế:
              - Gây thoái hoá các Achr với tỉ lệ tăng dần.
              - Phong bế các vị trí kết hợp của Achr với Ach.
              - Phá huỷ màng cơ sau Sinap thần kinh-cơ khi Ach kết hợp vào Achr với sự có mặt của Bổ thể.
              + Vấn đề vì sao ở bệnh nhân Nhược cơ lại có các tự kháng thể kháng Achr và cơ chế gây ra các rối loạn tự miễn dịch trong bệnh này diễn ra như thế nào vẫn đang được nghiên cứu và cho đến nay vẫn chưa có kết luận thoả đáng. Một số yếu tố được xác định có liên quan là:
              - Các bệnh nhân bị Bệnh nhược cơ ở lứa tuổi trẻ thường thấy có kháng nguyên HLA-B8, còn kháng nguyên HLA-A2 và HLA-A3 thường có ở các bệnh nhân tuổi già bị Nhược cơ do U tuyến ức.
    - Bệnh nhược cơ cũng thường đi kèm với các bệnh rối loạn tự miễn dịch khác như: Lupus ban đỏ hệ thống, Viêm đa khớp dạng thấp, Bệnh Basedow, Bệnh Hashimoto...
    - Tuyến ức đóng một vai trò rất quan trọng trong bệnh sinh Bệnh nhược cơ, cụ thể là:
    * Đại đa số  bệnh nhân Nhược cơ đều có Tuyến ức không bình thường, trong đó chủ yếu là Tuyến ức tăng sản với các “trung tâm mầm” hoạt động mạnh  và các U tuyến ức.
    * Trong Tuyến ức phát hiện thấy có các tế bào dạng cơ mang trên bề mặt chúng các cấu trúc giống Achr, chúng có thể chính là các tự kháng nguyên kích thích sản xuất ra các tự kháng thể kháng Achr ở bệnh nhân Nhược cơ.
    III. Mô bệnh học:
              + Không có hình ảnh tổn thương đại thể cũng như vi thể của tế bào thần kinh vận động hoặc tế bào cơ vân. Nếu có chỉ là sự thoái hoá của một số sợi cơ có tính chất thứ phát chứ không phải là các tổn thương nguyên phát của bệnh.
              + Khi nghiên cứu mô bệnh học ở bệnh nhân Nhược cơ, người ta thấy nổi bật lên là các tổn thương của Tuyến ức. Có thể gặp các loại tổn thương sau:
              - Tồn tại tuyến ức : Tuyến ức có cấu trúc gần như bình thường, chỉ khác là đáng lẽ ở lứa tuổi của bệnh nhân thì Tuyến ức phải teo đi.
              - Tăng sản tuyến ức: trong Tuyến ức xuất hiện các trung tâm sinh sản (còn gọi là các “trung tâm mầm”) nằm ở vùng tuỷ của Tuyến ức. Cần chú ý là về đại thể Tuyến ức tăng sản có thể không to ra về kích thước.
              - U tuyến ức: có thể gặp U tuyến ức thể Lympho, U tuyến ức tế bào hình thoi, U tuyến ức thể biểu mô, U tuyến ức có cấu trúc hình hoa hồng giả…Có thể là U lành tính hay ác tính. Tuy nhiên cần chú ý rằng không phải tất cả bệnh nhân U tuyến ức đều bị Nhược cơ.
    IV. Triệu chứng:
    1. Lâm sàng:
              Một đặc điểm nổi bật về triệu chứng lâm sàng của bệnh Nhược cơ là: triệu chứng nhược cơ thay đổi trong ngày (chiều nặng hơn sáng, nghỉ ngơi thì đỡ, vận động nhiều thì nặng hơn).
    +  Sụp mi:
              - Sụp mi là do bị nhược các cơ nâng mi, đây là triệu chứng khởi đầu ở khoảng 65% số bệnh nhân Nhược cơ nói chung. Đôi khi nó là triệu chứng duy nhất khi bệnh nhân đến khám.
    - Thường sụp mi ở cả hai mắt nhưng không đều nhau. Các nếp nhăn ở trán xuất hiện sớm vì bệnh nhân thường cố mở mắt và nhìn lên bằng các cơ trán. Sụp mi thường có kèm theo triệu chứng nhìn đôi, lác...do các cơ vận nhãn cũng bị tổn thương.
    - Đặc điểm của sụp mi và nhìn đôi trong bệnh Nhược cơ là càng về chiều càng nặng, càng nhìn chăm chú vào một chỗ và ánh sáng càng chói thì sụp mi và nhìn đôi càng nặng.
    +  Yếu cơ chân tay:
              - Làm việc chóng mỏi, dễ khuỵu ngã, chóng mỏi tay, thậm chí không tự nhấc tay chân lên được.
              - Càng vận động nhiều thì càng nhược cơ nặng hơn, nghỉ ngơi thì đỡ.
    + Nhược các cơ vùng hầu-thanh quản:
    - Khó phát âm do bị nhược các cơ vận động phát âm, khi cho bệnh nhân nói liên tục thì bệnh nhân nhanh chóng bị nói ngọng, líu lưỡi lại và không nói được nữa. Có khi ngay từ lúc bắt đầu tiếp xúc đã thấy bệnh nhân nói ngọng, không phát âm đúng được các từ.
              - Nhai chóng mỏi, nhiều khi không thể nhai được và hàm dưới trễ xuống do các cơ nhai bị nhược nặng.
              - Khó nuốt và nuốt thường bị sặc do nhược các cơ chi phối động tác nuốt, do đó bệnh nhân không ăn uống được và toàn trạng càng bị suy yếu nhanh hơn. Có trường hợp do sặc thức ăn mà bệnh nhân bị viêm phổi hoặc thậm chí dẫn tới tử vong.
    + Các cơn khó thở:
              Do nhược các cơ hô hấp nên bệnh nhân thường có các cơn khó thở. Các cơn này có thể diễn biến rất nhanh làm bệnh nhân suy thở cấp và nếu không cấp cứu kịp thời có thể dẫn tới tử vong.
              + Thử nghiệm Tensilon (Edrophonium) hoặc Prostigmin:
    Cho tiêm tĩnh mạch 2 mg Tensilon, theo dõi 45 giây nếu không có đáp ứng thì tiêm thêm 3 mg, lại theo dõi 45 giây nếu không có đáp ứng thì tiêm nốt 5 mg (tổng liều là 10 mg cho người lớn hoặc 0,2 mg/kg cho trẻ em). Thử nghiệm dương tính khi thấy các triệu chứng Nhược cơ giảm đi rõ rệt (thường xuất hiện trong vòng 30-60 giây và kéo dài khoảng 2-20 phút). Nếu không có Tensilon thì có thể dùng Neostigmine (Prostigmin), tiêm bắp với liều 0,04 mg/kg thể trọng, tác dụng xuát hiện sau 5-15 phút và đạt tối đa trong 1-2 giờ.

              - Cơ chế của thử nghiệm này là: Tensilon và Prostigmin là các thuốc kháng men Cholinesterase nên có tác dụng ức chế hoạt động của các men này,  làm cho các phân tử Ach ở màng sau Sináp thần kinh cơ chậm bị phá huỷ, nhờ đó tạo điều kiện cho Ach tác động được với các Achr để gây khử cực màng sau Sinap thần kinh-cơ và làm cơ hoạt động được.
    2. Cận lâm sàng:
    + Ghi điện cơ:
    - Trong Bệnh nhược cơ thấy điện thế hoạt động của cơ đáp ứng giảm dần đối với kích thích dây thần kinh lặp đi lặp lại.
              - Kỹ thuật Ghi điện cơ các sợi cơ riêng biệt cho phép xác định chính xác hơn các rối loạn bệnh lý đặc trưng của bệnh.
    + Chụp X.quang:
              - Chụp X.quang thường: có thể xác định được các U tuyến ức (ở trung thất trước) trên những bệnh nhân Nhược cơ do U tuyến ức.
    - Chụp X.quang có bơm khí vào trung thất: xác định được hình thể đại thể của Tuyến ức (thường tiến hành chụp cắt lớp ở tư thế nghiêng để có thể xác định được vị trí và hình thể các thuỳ tuyến ức rõ hơn).
    + Chụp CT ( Computed Tomography ), chụp MRI (Magnetic Resonance Imaging)... :
              Xác định được các biến đổi về hình thái của Tuyến ức cũng như  mối tương quan giải phẫu của nó với các cơ quan khác trong trung thất.
    + Soi trung thất và sinh thiết Tuyến ức:
              Tiến hành soi trung thất trước qua đường rạch da ở hõm trên ức, đưa ống soi vào để thăm dò và sinh thiết Tuyến ức cũng như các hạch bạch huyết ở trung thất trước.
    + Xét nghiệm tìm các tự kháng thể kháng Achr trong máu:
              Đây là xét nghiệm rất có giá trị trong chẩn đoán cũng như theo dõi và tiên lượng bệnh, nhưng còn có nhiều vấn đề vẫn tiếp tục cần phải nghiên cứu thêm ( hiệu giá các tự kháng thể đó không tương quan chặt chẽ với độ nặng của bệnh, có nhiều trường hợp bị Nhược cơ nhưng không thấy các tự kháng thể nói trên...).
    V. Phân loại:
              Hiện nay có nhiều cách phân chia Bệnh nhược cơ khác nhau dựa trên các đặc điểm triệu chứng, mức độ và giai đoạn của bệnh.
    1. Hệ thống phân loại của Osserman và Genkines:
          I. Nhược cơ  trẻ em:
                  A. Nhược cơ sơ sinh (Neonatal):
    - Xuất hiện ở con của những người mẹ bị bệnh nhược cơ.
    - Thường tự khỏi trong vòng 6 tuần.
    - Nguyên nhân là do các tự kháng thể của mẹ đi qua màng nhau thai vào máu của con.
    - Rất ít khi tiến triển sang tuổi thiếu niên hay người lớn.
                 B. Nhược cơ thiếu niên (Juvenile):
    - Xuất hiện bệnh trong thời gian từ khi sinh ra cho đến khi dậy thì.
    - Có xu hướng tồn tại kéo dài.
    - Khác nhược cơ sơ sinh ở chỗ tồn tại kéo dài và không liên quan đến bệnh của mẹ đẻ.
    - Có thể được phân loại theo tiến triển và mức độ bệnh giống như loại nhược cơ người lớn.
          II. Nhược cơ người lớn:
                  A. Nhược các cơ mắt đơn thuần:
    - Chỉ có các cơ nhãn cầu bị nhược.
    - Tiên lượng thường tốt.
              - Sau khoảng 2 năm mà không khỏi thì thường tiến triển thành nhược cơ toàn thân.
                   B. Nhược cơ toàn thân mức độ nhẹ:
    - Ngoài nhược cơ mắt ban đầu dần dần có các triệu chứng nhược cơ toàn thân.
    - Chưa có triệu chứng nhược cơ hô hấp.
    - Đáp ứng tốt với thuốc điều trị.
                   C. Nhược cơ toàn thân mức độ trung bình:
    - Nhược cơ toàn thân nặng hơn.
    - Thường có triệu chứng nhược các cơ hành cầu não (khó nuốt, nuốt nghẹn, nói ngọng…).
    - Có thể có nhược nhẹ các cơ hô hấp.
    - Đáp ứng kém với thuốc điều trị.
                    D. Nhược cơ nặng cấp tính:
    - Có cơn nhược cơ toàn thân nặng tiến triển nhanh.
    - Có các triệu chứng nhược cơ hô hấp nặng.
    - Thường kèm theo U tuyến ức.
    - Tỉ lệ tử vong cao.
    - Đáp ứng rất kém với điều trị.
                    E. Nhược cơ nặng giai đoạn muộn:
    - Nhược cơ nặng tiến triển đã kéo dài trên 2 năm sau các nhược cơ mắt hoặc nhược cơ toàn thân.
    - Thường kèm theo U tuyến ức.
    - Đáp ứng rất kém với điều trị.
    2. Phân loại theo nhóm giai đoạn của Perlo và Osserman:
    Trong điều trị có thể dùng cách phân loại theo nhóm giai đoạn do Perlo và Osserman đưa ra như sau:
              + Nhóm I:  Nhược cơ chỉ khư trú ở mắt.
              + Nhóm IIA: Nhược cơ toàn thân nhẹ, hình thành dần ở hệ cơ ngoại vi, chưa có rối loạn nuốt và hô hấp.
              + Nhóm IIB: Nhược cơ toàn thân trung bình, hình thành dần rối loạn nuốt, nói…nhưng chưa có rối loạn hô hấp.
              + Nhóm III: Nhược cơ toàn thân nặng, diễn biến cấp tính, sớm có các rối loạn nói, nuốt và hô hấp.
              + Nhóm IV: Nhược cơ nặng như trong nhóm III nhưng kéo dài đã trong nhiều năm.
    VI. Chẩn đoán:
    1. Chẩn đoán xác định:
              Trong thực tế lâm sàng, thông thường có thể chẩn đoán bệnh Nhược cơ thông qua các triệu chứng sau:
              + Nhược các nhóm cơ vân khác nhau.  Mức độ nhược cơ thay đổi trong ngày (chiều nặng hơn sáng, tăng lên khi vận động và giảm đi khi nghỉ ngơi).
              + Thử nghiệm Tensilon hoặc Prostigmin dương tính.
              + Kết quả của các thăm khám cận lâm sàng như:
    - Ghi điện cơ: điện thế hoạt động cơ đáp ứng giảm dần khi kích thích dây thần kinh lặp đi lặp lại.
    - Xét nghiệm tìm thấy các tự kháng thể kháng Achr trong máu...
    2. Chẩn đoán phân biệt:
              + Các bệnh có sụp mi mắt như: sụp mi bẩm sinh, tổn thương dây III, tai biến mạch máu não, U não... Các bệnh này có một điểm chung là sụp mi không thay đổi trong ngày, thử nghiệm Tensilon hoặc Prostigmin đều âm tính.
              + Các bệnh có tổn thương thần kinh cơ như: viêm đa dây thần kinh, viêm tuỷ leo, loạn dưỡng cơ... trong các bệnh này, thử nghiệm Tensilon hoặc Prostigmin đều âm tính.
              + Nhược cơ do dùng các thuốc có tác dụng gây Nhược cơ: thường là các thuốc nhóm Penicillamine, Procainamide và Aminoglycoside liều cao. Nghỉ dùng các thuốc này thì các triệu chứng nhược cơ sẽ hết sau vài tuần.
              + Nhược cơ trong bệnh Basedow:
    - Có thể là triệu chứng tổn thương cơ do nhiễm độc giáp. Lúc này cũng có những cơn nhược cơ nhưng không đáp ứng với thuốc kháng Cholinesterasa, thử nghiệm Tensilon hoặc Prostigmin âm tính, các triệu chứng nhược cơ giảm đi theo mức độ ổn định của tình trạng nhiễm độc giáp.
    - Cũng có thể là do Bệnh nhược cơ kết hợp với bệnh Basedow. Đây là một thể bệnh đặc biệt trong đó các triệu chứng của hai bệnh thường ảnh hưởng lẫn nhau: các triệu chứng của bệnh này nặng lên thì bệnh kia thường nhẹ đi và ngược lại.
    + Nhược cơ trong Hội chứng Eaton – Lambert: thường gặp trong Ung thư phổi tế bào nhỏ (loại tế bào hình hạt thóc). Các triệu chứng nhược cơ đi kèm với Ung thư phổi, Ghi điện cơ thấy điện thế cơ hoạt động tăng dần đối với kích thích dây thần kinh lặp đi lặp lại, khi mổ cắt bỏ thuỳ phổi kèm khối U thì các triệu chứng nhược cơ cũng mất theo.
    + Ngộ độc thức ăn có vi khuẩn Clostridium botulinum: nhược cơ thường xuất hiện trong vòng 18 tiếng sau khi ăn, bắt đầu thường từ các cơ vùng hầu họng rồi lan ra toàn thân, ghi điện cơ thấy điện thế cơ hoạt động tăng dần đối với các kích thích dây thần kinh lặp đi lặp lại.
    VI. Điều trị:
              Có các biện pháp chính điều trị bệnh Nhược cơ như sau:
              + Thuốc kháng Cholinesterase: Prostigmin, Neostigmin, Mytelase, Mestinol...
              + Thuốc ức chế miễn dịch: các thuốc Cocticoit, các thuốc kháng chuyển hoá như Azathiopirine (Imuran), Cyclosporine...
              + Thanh lọc huyết tương (Plasmapheresis).
              + Mổ cắt bỏ Tuyến ức.
              Trong thực tế điều trị, các biện pháp trên được sử dụng kết hợp với nhau một cách hợp lý để đem lại hiệu quả điều trị tốt nhất đối với từng bệnh nhân cụ thể.
    1. Các thuốc kháng Cholinesterase:
              + Các thuốc này có tác dụng ức chế men Cholinesterase ( men này có tác dụng tách Ach ra khỏi các Achr ở màng sau Sinap thần kinh cơ và thuỷ phân các Ach đó ), vì vậy làm cho các phân tử Ach không bị phá huỷ hết ngay và duy trì được tác dụng của Ach lên các thụ cảm thể của nó ở màng sau Sinap thần kinh-cơ, từ đó duy trì được khả năng co cơ.
              + Thường dùng các thuốc như Prostigmin, Mytelase, Mestynol ...
    - Dạng thuốc tiêm ( Prostigmin...) có tác dụng nhanh nên thường dùng trong cấp cứu cơn nhược cơ ( nên phối hợp với Atropin tiêm bắp trước khi tiêm Prostigmin để dự phòng tác dụng tăng tiết của Prostigmin ) hoặc dùng ngay trước các bữa ăn để tạo điều kiện cho bệnh nhân có thể ăn uống và vệ sinh cá nhân được.
    - Các thuốc dạng uống ( Mytelase, Mestynol...) có tác dụng chậm nhưng kéo dài nên thường được dùng có tính chất dự phòng trước các cơn nhược cơ hoặc khi muốn duy trì kéo dài tác dụng của thuốc.
              + Cần chú ý là khi dùng quá liều các thuốc kháng Cholinesterase có thể gây lên cơn cường Cholin. Triệu chứng của cơn cường Cholin cũng rất giống cơn nhược cơ nên có thể gây nhầm lẫn trong điều trị cấp cứu.
    2. Các thuốc ức chế miễn dịch:
              + Có tác dụng ức chế các phản ứng miễn dịch tạo ra các tự kháng thể trong bệnh Nhược cơ ( tự kháng thể kháng Achr...).
              + Các thuốc ức chế miễn dịch thường được dùng nhất là:
    - Các thuốc Cocticoit ( Prednisolon, Depersolon...). Đây là thuốc điều trị cơ bản đối với bệnh Nhược cơ ở cả giai đoạn có các cơn nhược cơ nặng cấp tính và giai đoạn điều trị duy trì.
    - Các thuốc kháng chuyển hoá như: Azathioprine (Imuran), Cyclosporine... Thường được dùng phối hợp với các Cocticoit.
    3. Thanh lọc huyết tương (Plasmapheresis):
              + Có tác dụng lọc bỏ các tự kháng thể cũng như các thành phần bổ thể trong huyết tương của bệnh nhân, nhờ đó giảm được tác dụng của chúng trong việc gây nên các triệu chứng của bệnh nhược cơ. Đứng về khía cạnh nào đó thì phương pháp này cũng được coi là một liệu pháp ức chế miễn dịch.
              + Tiến hành lấy máu bệnh nhân (thường lấy làm nhiều lần trong mỗi đợt điều trị) và lọc bỏ các thành phần huyết tương, chỉ giữ lại các thành phần hữu hình của máu để sau đó truyền trở lại cho bệnh nhân.
    4. Điều trị ngoại khoa:
              Mục đích cơ bản của điều trị ngoại khoa bệnh Nhược cơ là mổ cắt bỏ Tuyến ức. Cơ sở của biện pháp điều trị này là:
              - Tuyến ức đóng vai trò quan trọng trong cơ chế đáp ứng tự miễn dịch của cơ thể. Các tế bào Lympho T của Tuyến ức có tác dụng kích thích các Lympho B tạo ra các tự kháng thể lưu hành trong máu, do đó cắt bỏ Tuyến ức có thể làm giảm được việc tạo ra các tự kháng thể kháng Achr của màng sau Sinap thần kinh-cơ trong bệnh Nhược cơ.
    - Trong Tuyến ức có các tế bào dạng cơ mà nhiều nghiên cứu cho rằng nó chính là các tự kháng nguyên có tác dụng kích thích sinh ra các tự kháng thể kháng Achr ở màng sau Sinap thần kinh-cơ. Cắt bỏ Tuyến ức sẽ làm mất đi các kháng nguyên đó.
              - Tuyến ức trong bệnh Nhược cơ có những biến đổi giải phẫu rất rõ ràng ( có thể gặp Tăng sản tuyến ức, Tồn tại tuyến ức hoặc U tuyến ức). Sau khi cắt bỏ Tuyến ức, các triệu chứng nhược cơ ở phần lớn bệnh nhân được cải thiện rõ rệt, nhiều trường hợp khỏi hoàn toàn.
    a) Chỉ định mổ cắt bỏ Tuyến ức:
              Cần dựa vào nhiều yếu tố như:
              + Theo độ nặng của bệnh:
              - Nhược cơ khư trú chỉ ở mắt ( Nhóm I ):  thường chỉ định mổ khi đã điều trị nội khoa tích cực trên 2 năm mà bệnh không đỡ ( lúc này nhiều khả năng bệnh sẽ chuyển sang các độ nặng hơn và nếu mổ muộn thì kết quả sẽ kém hơn).
              - Nhược cơ toàn thân mức độ nhẹ và trung bình ( Nhóm IIA và IIB): chỉ định mổ sớm.
              - Các nhược cơ nặng (nhóm III, IV) hoặc đang có cơn nhược cơ hô hấp nặng: cần phải được điều trị nội khoa tích cực để giảm độ nặng của bệnh hoặc ổn định cơn nhược cơ rồi mới mổ.
              + Theo lứa tuổi:
              - Nhược cơ ở bệnh nhân tuổi già: nên chỉ định mổ sớm vì bệnh thường nặng và thường do U tuyến ức.
              - Nhược cơ ở bệnh nhân nhỏ tuổi ( dưới 13 tuổi): cần cân nhắc khi chỉ định mổ  vì việc cắt bỏ Tuyến ức ở lứa tuổi này có thể ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng miễn dịch của bệnh nhân sau này.
              + Theo các bệnh đi kèm:
              - Bệnh Nhược cơ kèm bệnh Basedow: chỉ định mổ Nhược cơ sau khi đã điều trị bệnh Basedow ổn định bằng Nội khoa. Sau khi mổ Nhược cơ ổn định, nếu bệnh Basedow vẫn phát triển thì mới chỉ định mổ bệnh Basedow. 
              - Bệnh nhược cơ kèm các bệnh viêm nhiễm khác, nhất là nhiễm khuẩn đường hô hấp: chỉ định mổ khi đã điều trị ổn định được viêm nhiễm, vì sau mổ tình trạng nhiễm khuẩn sẽ làm nhược cơ nặng lên rất nhiều.
    b) Các phương pháp mổ cắt bỏ tuyến ức:
              + Mổ cắt bỏ tuyến ức qua đường cổ:
              - Tiến hành rạch da vùng cổ ngay ở hõm trên ức, bóc tách từ vùng cổ theo mặt sau xương ức xuống trung thất trước (có thể dùng những dụng cụ đặc biệt để nâng giữ xương ức đảm bảo cho việc bóc tách dễ dàng hơn). Bóc tách lấy bỏ hoàn toàn các thuỳ Tuyến ức.
              - Phương pháp này có ưu điểm là: ít gây thương tổn cho bệnh nhân, diễn biến sau mổ nhẹ nhàng... Nhưng nhược điểm là không đảm bảo lấy hết triệt để được Tuyến ức và tổ chức mỡ lỏng lẻo trong trung thất ( các nghiên cứu cho thấy có rất nhiều nang tổ chức Tuyến ức nằm rải rác cả trong tổ chức mỡ lỏng lẻo đó ) do đó tỉ lệ bệnh tái phát sau mổ cao. Phương pháp này cũng không dùng được cho các trường hợp Nhược cơ có U tuyến ức lớn.
              + Mổ cắt bỏ Tuyến ức qua đường mở ngực:
    - Có thể dùng các đường: mở xương ức theo đường dọc giữa của xương ức hoặc mở ngực đường trước-bên ngực phải hay ngực trái. Phẫu tích cắt bỏ toàn bộ Tuyến ức đồng thời lấy sạch cả các tổ chức mỡ lỏng lẻo trong trung thất trước.
    - Ưu điểm là cắt bỏ triệt để được Tuyến ức và tổ chức mỡ lỏng lẻo có chứa các nang tổ chức Tuyến ức nằm ở trong trung thất. Tuy nhiên so với mổ theo đường cổ thì phương pháp này gây tổn thương nhiều hơn và diễn biến sau mổ cũng thường nặng hơn.
              + Mổ cắt bỏ tuyến ức bằng phẫu thuật nội soi:
              -  Đưa dụng cụ nội soi vào trung thất trước bằng các đường chọc từ hõm trên ức và qua khe liên sườn sát cạnh bờ xương ức ( không làm tổn thương màng phổi trung thất). Dưới quan sát trực tiếp qua hệ thống ống nội soi và màn hình Video, tiến hành bóc tách lấy bỏ toàn bộ Tuyến ức cùng các tổ chức mỡ lỏng lẻo trong trung thất trước.
              - Ưu điểm là cắt bỏ triệt để được Tuyến ức và tổ chức mỡ lỏng lẻo trong trung thất, ít gây thương tổn cho bệnh nhân, diễn biến sau mổ nhẹ nhàng. Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi phải có trang bị đầy đủ các dụng cụ và phương tiện phẫu thuật nội soi, phẫu thuật viên phải có nhiều kinh nghiệm...
    c) Biến chứng sau mổ:
              + Suy hô hấp: thường xảy ra do xuất hiện cơn nhược cơ cấp tính sau mổ, đây là biến chứng nặng và hay gặp, nó cũng là nguyên nhân chính gây tử vong sau mổ Nhược cơ.
              + Chảy máu: có thể chảy máu từ xương ức hoặc từ các mạch nhỏ trong trung thất. Thường là các chảy máu không lớn và ít khi phải mở lại vết mổ để cầm máu.
              + Tràn khí và tràn dịch màng phổi: thường do bị rách màng phổi trung thất trong khi mổ. Nếu phát hiện thấy khi đang mổ thì nên đặt thêm một dẫn lưu màng phổi trước khi kết thúc cuộc mổ, nếu phát hiện thấy sau mổ thì có thể chọc hút hoặc đặt dẫn lưu màng phổi.
              + Viêm mủ trung thất: đây là biến chứng nặng nhưng ít gặp. Cần phải được dùng các kháng sinh mạnh và tích cực.
              + Viêm xương ức: có thể gặp trong phương pháp mổ cắt Tuyến ức qua đường mở dọc giữa xương ức. Phải điều trị tích cực bằng các kháng sinh mạnh.
              + Nhược cơ tái phát: có khoảng 20-25% bệnh nhân Nhược cơ tái phát với mức độ như cũ hoặc thậm chí nặng hơn. Điều trị những trường hợp này thường khó khăn và ít kết quả. Nguyên nhân của hiện tượng này chưa được biết rõ ràng, có nhiều ý kiến cho là do còn sót lại tổ chức Tuyến ức hoặc có các Tuyến ức lạc chỗ mà không phát hiện được.
    5. Các vấn đề khác trong điều trị:
              Trong khi thực hiện các phương pháp điều trị nói trên, phải luôn kết hợp với các biện pháp sau:
              + Nâng đỡ toàn trạng bệnh nhân, đảm bảo nuôi dưỡng tốt, bổ xung đầy đủ nước và điện giải, nhất là ở những bệnh nhân có các rối loạn về nuốt.
              + Điều trị tốt các ổ nhiễm khuẩn có thể có trong cơ thể (răng, tai, mũi, họng, phế quản, phổi...), nhất là khi có dùng thuốc Cocticoit kéo dài, vì tình trạng nhiễm khuẩn thường làm cho triệu chứng nhược cơ nặng lên rất nhiều.
              +  Không sử dụng các thuốc có thể gây ức chế quá trình dẫn truyền thần kinh-cơ như: các thuốc giãn cơ ( Cura và các thuốc giống Cura ), các thuốc nhóm Benzodiazepam ( Seduxen, Tranxen... ),    một số kháng sinh ( Streptomycin, Gentamycin, Kanamycin, Lincomicin, Neomycin, Polymyxin B, Bacitracin, Colistin...) , một số thuốc chống loạn nhịp (Quinidin, Procainamide, Propranolol...), một số thuốc mê (Halothan, Ether...).
              + Hướng dẫn bệnh nhân tập thở và tích cực ho khạc đờm để tránh ứ trệ đường hô hấp.
    Tải về
    Chia sẻ

      Hôm nay: Sat Nov 25, 2017 12:40 pm