Thư Viện Y Học

Diễn đàn trao đổi thảo luận kiến thức y học

Welcome to thuvienyhoc.forumvi.com! :: Have a nice day!

    Bệnh bại liệt

    Share
    avatar
    Admin
    Admin
    Admin

    Tổng số bài gửi : 159
    Join date : 07/11/2014
    Age : 30
    Đến từ : DN

    Bệnh bại liệt

    Bài gửi by Admin on Wed Nov 19, 2014 8:05 am

    BỆNH BẠI LIỆT ( Poliomyelitis )

    1. ĐẠI  CƯƠNG:

    Bại liệt là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virut bại liệt gây ra, bệnh lây theo đường hô hấp và đường tiêu hoá. Đặc điểm lâm sàng chủ yếu là những biểu hiện liệt mềm ngoại vi, không có rối loạn cảm giác kèm theo.
    1.1. Mầm bệnh
    Virut bại liệt (poliovirus) có 3 type KN và không gây miễn dịch chéo:

            Typ I:  Điển hình là chủng Brunhilde.

            Typ II: Điển hình là chủng Lansing.

            Typ III:         Điển hình là chủng Leon.

    Trong đó typ I chủ yếu gây bệnh cho người ở thể điển hình, typ II gây bệnh thể ẩn và typ III ít gây bệnh hơn.

    Virut có tính chịu đựng cao với ngoại cảnh: trong phân người chúng sống được vài ngày đến vài tuần, trong nước có thể tới 14 ngày. Dễ bị diệt bằng các thuốc khử trùng thông thường như: Chloramin B, H2O2, thuốc tím và tia cực tím... Ở 60°C, virut bị diệt trong 30 phút.
    1.2. Nguồn bệnh:
    Là những bệnh nhân bị bệnh bại liệt. Virut có ở họng và ở phân người bệnh trước và sau khi khởi phát có thể đến 2 tuần hoặc hơn.

    Ngoài ra, người mang virut không có triệu chứng lâm sàng cũng là một nguồn lây quan trọng.
    1.3. Đường lây:
    Virut bại liệt lây theo đường hô hấp trong thời kỳ đầu của bệnh.

    Bệnh lây chủ yếu bằng đường tiêu hoá: thông qua tay và dụng cụ nhiễm bẩn với vật chủ trung gian truyền bệnh là ruồi. Virut được thải ra theo phân của người bệnh trong thời gian dài (tới vài tháng) và xâm nhập vào đường tiêu hoá (miệng) của người lành.
    1.4. Sức cảm thụ:
    Người có sức thụ bệnh cao với virut bại liệt.

    Tuổi hay gặp là trẻ em 2-8 tuổi, đặc biệt là trẻ 2-4 tuổi chiếm tới 60-80%.

    Trẻ sơ sinh và người lớn có thể bị nhưng ít hơn và thường là không điển hình.
    1.5. Tính miễn dịch:
    Sau khi bị bệnh bại liệt bệnh nhân thường có miễn dịch bền vững,
    1.6. Tính chất dịch:
    Bệnh thường tản phát, đôi khi thành dịch. Gặp ở thành phố nhiều hơn nông thôn và hay xảy ra vào cuối mùa xuân, đầu mùa hè hàng năm.

    2. CƠ CHẾ BỆNH SINH VÀ GIẢI PHẪU BỆNH LÝ
    2.1. Cơ chế bệnh sinh:
    Từ khi xâm nhập vào cơ thể đến khi vào hệ thần kinh trung ương gây bệnh cảnh lâm sàng điển hình, diễn biến qua 3 giai đoạn:

    - Giai đoạn xâm nhập và tăng sinh ở đường tiêu hoá: Virut vào cơ thể qua hầu, họng trong 24 giờ đầu đã đến các hạch bạch huyết quanh họng, vào niêm mạc tiểu tràng và tăng sinh ở đó

    - Giai đoạn nội tạng: Từ niêm mạc đường tiêu hoá, virut vào máu (lần 1) sau đó đến các nội tạng (tim, gan, tuỵ, thượng thận, hô hấp...). Tại đây chúng tiếp tục tăng sinh và gây ra các biểu hiện lâm sàng của thời kỳ tiền liệt.

    - Giai đoạn xâm nhập và tăng sinh ở thần kinh trung ương: virut từ các nội tạng vào máu (lần 2) và vào hệ thần kinh trung ương, chủ yếu là các neuron vận động ở sừng trước tuỷ sống.
    2.2. Giải phẫu bệnh lý:
    Tổn thương chủ yếu là ở sừng trước tuỷ sống, ngoài ra sừng bên, sừng sau cũng có thể bị viêm nhưng thường là tổn thương nhẹ và không điển hình.

    3. LÂM SÀNG:
    3.1. Thể thông thường điển hình: (hay thể liệt) chiếm 1% trong số các thể bệnh.
    +. Thời kỳ nung bệnh: Khoảng 5-35 ngày, trung bình 6-20 ngày.

    +. Thời kỳ khởi phát (hay giai đoạn tiền liệt): 3-7 ngày với nhiều biểu hiện phong phú:

    - Sốt: Khởi phát đột ngột, đa số sốt nhẹ, một số trường hợp sốt cao 39-40°C trong 3-4 ngày.

    - Viêm long đường hô hấp trên: ho khan, hắt hơi, chảy nước mắt nước mũi, giọng nói khàn.

    - Rối loạn tiêu hoá: nôn, buồn nôn, đi ngoài phân táo hoặc lỏng.

    - Rối loạn thần kinh thực vật: trẻ vã nhiều mồ hôi, nét mặt lúc tái lúc hồng, mạch chậm (ngược lại với mạch nhanh khi sốt cao).

    - Trạng thái tâm thần kinh: li bì hoặc vật vã, hay kêu khóc.

    - Đau và co cứng các cơ là dấu hiệu rất sớm và phổ biến. Đây là những dấu hiệu rất có giá trị để chẩn đoán sớm vì những cơ nào đau sẽ phát triển liệt, sức cơ yếu, trương lực cơ giảm, đôi khi có hiện tượng co giật nhẹ ở những cơ sau này sẽ bị liệt. Kèm theo có biểu hiện giảm hoặc mất phản xạ

    - Hội chứng màng não: nhức đầu nhiều (kèm theo nôn, buồn nôn). Khám các dấu hiệu thực thể: cứng gáy (+), Kernig (+), Brudzinski (+). Ở trẻ nhỏ dưới 18 tháng có thể thấy thóp phồng hoặc dấu hiệu Hoyne (+): để trẻ nằm ngửa, dùng 2 tay thầy thuốc nâng nhẹ 2 vai trẻ, đầu trẻ không ngóc lên được theo.

    Xét nghiệm dịch não tuỷ có thể thấy tế bào tăng nhẹ, protein bình thường hoặc tăng ít, glucose và NaCl bình thường.

    +. Thời kỳ toàn phát (hay giai đoạn liệt):

    * Đặc điểm của liệt:

    - Liệt nhẽo ngoại vi, không đối xứng.

    - Liệt không theo một thứ tự nhất định.

    - Liệt xảy ra đột ngột và nhanh, thường xuất hiện vào ngày thứ 4 - 7 của bệnh, khi nhiệt độ đã về bình thường hoặc hết sốt trước đó 1-2 ngày. Từ khi bắt đầu có liệt đến khi liệt không tiến triển nữa chỉ trong vòng 48-72 giờ.

    - Các cơ bị liệt thường yếu, trương lực cơ giảm, mất hoặc giảm phản xạ gân xương và phản xạ da, cơ teo nhanh. Điểm đáng chú ý là ở các cơ này không có những rối loạn cảm giác kèm theo.

    * Xét nghiệm:

    Bạch cầu máu ngoại vi bình thường hoặc có thể tăng trong một vài ngày, sau đó về bình thường.

    Xét nghiệm dịch não tuỷ: Tế bào tăng. Protein trong dịch não tuỷ tăng

    Phân lập virut: từ máu (trước khởi phát 2-3 ngày và sau khởi phát 1-2 ngày), từ nhầy họng (trước khởi phát và kéo dài 10 ngày sau khởi phát), từ phân (trước khởi phát và kéo dài tới khi hồi phục).

    +. Thời kỳ hồi phục và di chứng:

    - Hồi phục sớm: trong 6 tuần đầu của bệnh, các cơ bị liệt phục hồi nhanh, giảm và hết đau, chỉ để lại một số ít cơ và nhóm cơ bị liệt hoàn toàn. Đó là do đa số các neuron thần kinh chi phối các cơ liệt lúc đầu chỉ bị phù nề và rối loạn chức năng, sau đó hồi phục.

    - Hồi phục muộn: Sau 6 tuần tới 2-3 năm, có cơ bị liệt giảm chậm và không rõ ràng, nhiều cơ bị liệt hoàn toàn.

    - Di chứng: Là những tổn thương không hồi phục sau 3 năm.
    3.2. Một số thể lâm sàng khác:
    2.1. Thể không triệu chứng lâm sàng

    2.2. Thể nhẹ

    2.3. Thể không liệt

    4. CHẨN ĐOÁN:
    4.1. Chẩn đoán xác định: dựa vào
    - Lâm sàng: Sốt cao, đau cơ.

    Liệt nhẽo ngoại vi, không đối xứng, xảy ra đột ngột, giảm phản xạ gân xương và không có rối loạn cảm giác kèm theo.

    - Xét nghiệm: Phân lập virut từ máu, nhầy họng, phân theo từng thời kỳ bệnh.

    - Dịch tễ: tuổi dễ mắc bệnh (2-8 tuổi) và có nhiều trẻ trong một tập thể cùng bị tương tự.

    5. ĐIỀU TRỊ VÀ DỰ PHÒNG:
    5.1. Điều trị bại liệt thể liệt:
    * Giai đoạn tiền liệt:

    - Bất động bệnh nhân trong 1-2 tuần.

    - Nếu có sốt cao phải hạ nhiệt, đề phòng co giật bằng cách chườm lạnh hoặc dùng thuốc (Paracetamol, Efferangan, Aspegic).

    - Giảm đau, an thần

    - Tiêm bắp thịt gluconat Canxi trong 7-10 ngày.

    * Giai đoạn liệt:

    - Đặt bệnh nhân ở tư thế phòng dị dạng.

    - Tích cực hồi sức tuần hoàn, hô hấp nếu do tổn thương nặng ở thể hành tuỷ: đặt nằm nghiêng theo tư thế dẫn lưu, hút đờm dãi, thở oxy, hô hấp nhân tạo. Bồi phụ nước, điện giải, trợ tim mạch, chống phù não.

    - Thuốc phục hồi vận động ở các cơ bị liệt:

    - Kháng sinh bội nhiễm đường hô hấp và tiết niệu.

    - Gamma globulin trong 7-10 ngày đầu.

    - Lý liệu pháp sớm (từ tuần thứ hai của bệnh) ngay sau khi hết sốt vài ngày, không nên để đến khi hết đau vì những bệnh nhân đau nhiều thường teo cơ nhanh.

    Có thể áp dụng các biện pháp: bó Paraphin, điện phân, xung điện tần số cao... chia làm nhiều đợt, mỗi đợt 10-15 ngày, kéo dài trong 1-2 năm.

    - Kết hợp thể dục liệu pháp (xoa bóp, vận động tại chỗ... ) với tâm lý liệu pháp.

             *. Giai đoạn hồi phục và di chứng:

    - Tích cực nâng cao sức đề kháng của cơ thể.

    - Tiếp tục các biện pháp lý liệu và thể dục liệu pháp. Cho bệnh nhân tập thể dục nhẹ nhàng, tập đi lại và các cử động khác.

    - Nếu có di chứng có thể dùng phẫu thuật chỉnh hình để can thiệp.
    5.2. Điều trị bại liệt thể nhẹ:
    - Giảm đau, an thần, hạ nhiệt.

    - Điều trị các rối loạn tiêu hoá.

    - Tăng cường dinh dưỡng, nâng cao sức đề kháng.

    - Theo dõi sát để phát hiện tình trạng liệt.
    5.3.Điều trị bại liệt thể không liệt:
    - Chủ yếu là an thần, giảm đau, chống phù nề não.

    - Có thể áp dụng lý liệu pháp nếu có biểu hiện co thắt kéo dài ở các bắp cơ và theo dõi trong vòng hai tháng.
    5.4. Dự phòng:
    5.4.1. Dự phòng chung:

    - Trong thời gian dịch xảy ra phải cách ly bệnh nhân ít nhất 2-4 tuần.

    - Những trẻ có sốt, viêm xuất tiết đường hô hấp, rối loạn tiêu hoá chưa rõ nguyên nhân phải được giữ tại nhà và theo dõi hàng ngày.

    - Những người tiếp xúc và làm nhiệm vụ chăm sóc bệnh nhân phải được theo dõi sát. Nếu có triệu chứng nghi ngờ: dấu hiệu màng não, đau dọc sống lưng và cổ, giảm trương lực ở một số cơ v.v.. phải xét nghiệm dịch não tuỷ và cách ly.

    - Đối với những bệnh nhân thể nhẹ hoặc thể không có liệt cần hạn chế vận động, tránh kích thích đau cho đến khi hết triệu chứng lâm sàng.
    5.4.2. Dùng vacxin:
    - Vacxin bất hoạt Salk là loại vacxin dược chế tạo từ chủng virut bại liệt bị bất hoại bằng Formalin. Loại này dùng đường tiêm,

    - Vacxin sống độc lực Sabin có nhiều ưu điểm hơn: dùng đường uống, gây được miễn dịch lâu bền, chống lại được sự xâm nhập của virut hoang dại (do tạo được miễn dịch tại ruột), đạt hiệu quả 90-100%, giá thành rẻ.

    Tất cả trẻ em (nhất là trẻ từ sơ sinh đến 60 tháng) được uống 2 giọt vacxin Sabin 1 lần và hàng năm uống lại.

    Tải về

    Chia sẻ

      Hôm nay: Thu Dec 14, 2017 10:14 pm