Thư Viện Y Học

Diễn đàn trao đổi thảo luận kiến thức y học

Forum mình có thêm website BSQUANG ICU mn vô đọc nhá!

    Bệnh quai bị

    Admin
    Admin
    Admin
    Admin

    Tổng số bài gửi : 210
    Join date : 07/11/2014
    Age : 37
    Đến từ : DN

    Bệnh quai bị Empty Bệnh quai bị

    Bài gửi by Admin Wed Nov 19, 2014 11:02 am

    BỆNH QUAI BỊ (PAROTITIS  EPIDEMICA)
    1. Định nghĩa
    Bệnh quai bị (còn được gọi là bệnh viêm tuyến nước bọt mang tai dịch tễ hay viêm tuyến nước bọt mang tai do virút quai bị) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây trực tiếp bằng đường hô hấp, hay gây thành dịch trong trẻ em, thanh thiếu niên do virút quai bị gây nên. Biểu hiện lâm sàng phổ biến nhất là viêm tuyến nước bọt mang tai không hoá mủ. Các tuyến nước bọt khác, tinh hoàn, tuỵ và hệ thần kinh trung ương cũng có thể bị tổn thương.
    2. Dịch tễ học
    2.1. Mầm bệnh
    Mumpsvirus là virút nhóm ARN thuộc họ Paramyxovirus, có hướng tính gây bệnh với các tuyến (ngoại tiết) và thần kinh. Virút quai bị có sức đề kháng kém, bị bất hoạt nhanh khi ra ánh nắng và trong điều kiện khô nóng nhưng tồn tại lâu ở nhiệt độ thấp.
    2.2. Nguồn bệnh
     Là những người đang mắc quai bị cấp tính ở tất cả các thể.
    2.3. Đường lây
    - Lây trực tiếp bằng đường hô hấp qua tiếp xúc giữa người bệnh và người lành.
    - Thời gian lây: Từ 7 ngày trước đến 7 ngày sau khi có triệu chứng đầu tiên của bệnh.
    2.4. Đặc điểm dịch tễ
    - Bệnh gặp khắp nơi trên thế giới và có thể xảy ra quanh năm nhưng thường  thành dịch vào mùa đông - xuân.
    - Bệnh thường xảy ra ở thanh thiếu niên trong các tập thể ở tuổi mẫu giáo, trường học, đơn vị tân binh.
    2.5. Cảm thụ và miễn dịch
    - Cảm thụ: Tất cả những người chưa mắc quai bị, thường ở tuổi thanh thiếu niên. Trẻ dưới 2 tuổi và người già rất hiếm bị bệnh.
    - Miễn dịch: Sau khi mắc bệnh có miễn dịch vững bền, tồn tại rất nhiều năm. Bệnh có tái phát, nhưng rất hiếm. Miễn dịch mẹ truyền cho con tồn tại khoảng 1 năm.
    3. Cơ chế bệnh sinh và mô bệnh học
    3.1. Cơ chế bệnh sinh
    Từ niêm mạc miệng, mũi, họng, kết mạc, virút đột nhập vào máu gây nhiễm virút huyết và gây nên các triệu chứng nhiễm trùng nhiễm độc ở thời kỳ đầu. Sau đó từ máu, virút đột nhập vào các tuyến nước bọt (hay gặp nhất là tuyến mang tai), tuyến sinh dục, tuỵ, thần kinh... và phát triển, gây nên các triệu chứng viêm cục bộ ở các cơ quan này. Sau đó virút được đào thải qua nước bọt. Đôi khi, virút có thể từ tuyến nước bọt đột nhập vào máu gây tổn thương ở tuyến khác.
    3.2. Mô bệnh học
    - Các tuyến nước bọt: Chủ yếu viêm mô kẽ còn mô hạch ít bị tổn thương.
    - Tuỵ: Viêm hoại tử cả hệ thống nội và ngoại tiết.
    - Tinh hoàn: Thương tổn cả mô kẽ và biểu mô tuyến dẫn đến hoại tử các tế bào biểu mô, sau đó các tuyến bị teo lại và tắc. Nếu bị tổn thương nặng có thể gây thiểu năng sinh dục, không có tinh trùng.
    - Thần kinh trung ương: Màng não bị viêm thâm nhiễm xuất tiết, não bị viêm gây phù nề, xung huyết.
    4. Lâm sàng
    4.1. Phân loại
    4.1.1.  Phân loại theo triệu chứng           
    - Thể điển hình
    - Thể ẩn (chiếm 20% - 90% trong vụ dịch).
    4.1.2.  Phân loại theo mức độ
    Có các mức độ: nhẹ, vừa, nặng.
    4.1.3.  Phân loại theo vị trí tổn thương
    - Thể viêm tuyến nước bọt: Tuyến mang tai, dưới hàm, dưới lưỡi
    - Thể viêm tinh hoàn
    - Thể viêm tuỵ
    - Thể thần kinh: Viêm màng não, viêm não
    - Thể kết hợp:     + Viêm tuyến mang tai + viêm tinh hoàn
                                        + Viêm tuyến mang tai + viêm màng não ...
    4.2. Triệu chứng học theo từng thể lâm sàng
    4.2.1. Lâm sàng thể điển hình, mức độ vừa
    Là thể viêm tuyến mang tai (thể hay gặp nhất, chiếm 70% các thể có khu trú).
    * Nung bệnh : Trung bình từ 18 - 21 ngày.
    * Khởi phát : Sốt 38-39°C.  Đau đầu, đau mỏi toàn thân, ăn ngủ kém.
    * Toàn phát
    - Sau sốt 24-28 giờ xuất hiện viêm tuyến mang tai. Lúc đầu sưng một bên, sau 1-2 ngày sưng tiếp bên kia (thường sưng cả hai bên, ít gặp sưng chỉ 1 bên). Hai bên sưng thường không đối xứng (bên sưng to, bên sưng nhỏ), tuyến mang tai sưng to đôi khi làm mất rãnh trước và sau tai, có khi biến dạng mặt, mặt phình ra, cổ bạnh, cằm xệ.
    - Da vùng tuyến mang tai bị sưng căng, bóng, không đỏ, ấn không lõm, sờ nóng, đau.
    - Nước bọt ít, quánh.
    - Viêm đỏ lỗ ống Stenon (dấu hiệu Mourson).
    - Khi tuyến mang tai sưng không rõ ràng hoặc lúc mới khởi bệnh cần tìm 3 điểm đau của Rillet và Barthez đó là: điểm khớp thái dương - hàm, điểm mỏm xương chũm, điểm sau góc xương hàm dưới.
    - Các triệu chứng khác:
          + Đau hàm khi há miệng, khi nhai, nuốt. Đau lan ra tai.
                + Họng viêm đỏ.
                + Sưng hạch góc hàm.
                + Vẫn sốt, đau đầu, có thể có nhịp tim chậm.
                + Có thể kèm viêm tuyến dưới lưỡi, dưới hàm.
    - Xét nghiệm máu: Bạch cầu giảm, bạch cầu đa nhân trung tính giảm, lympho tăng tương đối, Amylaza máu và nước tiểu đều tăng.
    * Lui bệnh
    Bệnh tự khỏi trong vòng 10 ngày: Thường hết sốt sau 3-4 ngày, tuyến hết sưng trong vòng 8-10 ngày, hạch sưng kéo dài hơn tuyến một chút. Tuyến nước bọt không bao giờ hoá mủ (trừ khi bội nhiễm vi khuẩn) và cũng không bao giờ bị teo.
    4.2 2. Những thể lâm sàng khác
    Viêm tuyến nước bọt dưới lưỡi, dưới hàm
    - Thường đi kèm với viêm tuyến mang tai, hiếm khi riêng biệt.
    - Khi viêm tuyến dưới hàm làm cằm xệ xuống, khó nuốt và nuốt đau. Viêm tuyến dưới lưỡi làm lưỡi lè ra.
    - Xét nghiệm: Amylaza máu và nước tiểu đều tăng.
    Những thể khu trú ngoài tuyến nước bọt
    Có thể xảy ra trước, cùng hoặc sau viêm tuyến nước bọt. Đôi khi không đi kèm viêm tuyến nước bọt.
    * Viêm tinh hoàn (orchitis):
    - Hay gặp ở nam giới đang tuổi dậy thì hoặc đã trưởng thành.
    - Tỷ lệ mắc tuỳ vụ dịch, tuỳ theo tác giả (10% - 30%), là nơi khu trú hay gặp thứ hai sau viêm tuyến nước bọt mang tai.
    - Thường bị một bên, ít gặp cả hai bên. Khi bị cả hai bên thì cũng sưng cách nhau 2-3 ngày.
    - Xuất hiện sau viêm tuyến nước bọt và khi các triệu chứng viêm tuyến nước bọt đã dịu đi. Thường vào ngày thứ 5 đến thứ 10 của bệnh, sốt xuất hiện trở lại hoặc sốt tăng lên, buồn nôn - nôn, tinh hoàn đau, nhất là khi đi lại và sưng to gấp 2-3 lần bình thường, sờ thấy chắc, da bìu có thể nề, căng đỏ. Trong những trường hợp nặng có thể kèm thêm viêm thừng tinh, viêm mào tinh hoàn và tràn dịch màng tinh hoàn.
    - Tiến triển: hết sốt sau 3-5 ngày; tinh hoàn giảm sưng từ từ, có thể 3-4 tuần sau tinh hoàn mới hết sưng đau, không bao giờ có mủ.
    Tinh hoàn có bị teo hay không phải đợi khoảng hai tháng sau mới biết chắc (tỷ lệ teo tinh hoàn khoảng 5/1000). Chứng vô tinh trùng rất hiếm. Chức năng nội tiết thường không bị ảnh hưởng. Theo kinh điển, nếu teo tinh hoàn có thể gây các tình trạng như không có tinh trùng, vô sinh, chậm lớn, mất nam tính và liệt dương. Ngày nay qua theo dõi nhiều năm, đa số các tác giả thấy rằng:
          + Nếu teo 1 tinh hoàn sẽ không có ảnh hưởng gì do bên lành sẽ hoạt động bù trừ.
                + Khi bị teo cả 2 bên hoặc ở người chỉ có 1 tinh hoàn thì tỷ lệ bị ảnh hưởng hoạt động sinh dục và vô sinh cũng thấp.
    * Viêm buồng trứng (Oophoritis):
    Ngược lại với viêm tinh hoàn, viêm buồng trứng do quai bị rất hiếm gặp.
    * Viêm tuỵ (Pancreatitis): 
    Ít gặp, tỷ lệ tuỳ theo tác giả.
    *  Những khu trú ở hệ thần kinh:
    - Viêm màng não
          +  Gặp khoảng 16% các trường hợp quai bị.
          + Thường xuất hiện sau khi viêm tuyến nước bọt vài ngày, đôi khi xuất hiện trước.
          - Viêm não
          + Có thể xảy ra cùng hoặc sau viêm tuyến mang tai 2-3 tuần. Đôi khi, viêm não đơn độc và không có triệu chứng tại tuyến nước bọt.
          + Thường kèm viêm màng não.
          + Có tiên lượng tốt hơn viêm não do virút viêm não Nhật Bản, hãn hữu có tử vong.
    - Các biểu hiện thần kinh khác:
     Viêm tuỷ sống, viêm đa rễ và dây thần kinh, viêm các dây thần kinh sọ.
    * Những khu trú khác của quai bi: (rất hiếm gặp)
     Viêm cơ tim, viêm phổi không điển hình, tràn dịch màng phổi, viêm thận.
    4.2.3 Tiên lượng - Biến chứng và di chứng
    * Tiên lượng: Nói chung là lành tính, hãn hữu có thể có tử vong do viêm não, viêm cơ tim, viêm tuỵ.
    * Biến chứng và di chứng
    - Phụ nữ có thai bị quai bị có thể bị sảy thai, đẻ non.
    - Nam giới: teo tinh hoàn, vô sinh.
    - Đái tháo đường do viêm tuỵ, điếc do tổn thương dây thần kinh số VIII.
    5. Chẩn đoán
    5.1. Chẩn đoán xác định
    Dựa dịch tễ, lâm sàng, xét nghiệm.
    * Dịch tễ: nơi bệnh nhân sống đang có dịch quai bị, mùa đông - xuân.
    * Lâm sàng: Viêm tuyến mang tai cấp không có xu hướng hoá mủ, thường bị hai bên, xuất hiện không cùng một lúc.
    * Xét nghiệm
    - Số lượng bạch cầu trong máu giảm, bạch cầu lympho tăng cao.
    - Amylaza máu và nước tiểu tăng cao.
    - Trong viêm tuỵ có thể kèm Lipase máu cao.
    - Phân lập virút quai bị ở nước bọt và dịch não tuỷ.
    - Huyết thanh chẩn đoán: Làm phản ứng kết hợp bổ thể, phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu, phản ứng ELISA.
    5.2. Chẩn đoán phân biệt
    5.2.1. Khi viêm tuyến mang tai một bên cần phân biệt với
    - Viêm mủ tuyến mang tai
    Viêm tuyến mang tai một bên; có sưng, nóng, đỏ, đau rõ; xu hướng hoá mủ nên ấn lõm; vuốt dọc ống Stenon có mủ chảy ra; bạch cầu tăng cao, bạch cầu đa nhân trung tính tăng.   
    - Sỏi tuyến nước bọt mang tai
    Thường bị đi bị lại nhiều lần, sưng tăng lên theo các bữa ăn; chụp tuyến nước bọt thấy sỏi.
    - Viêm hạch góc hàm dưới
    Do viêm nhiễm ở khu vực xung quanh (răng, hàm, họng, hầu, hạch bạch nhân). Hạch có ranh giới rõ, di động, đau. Bạch cầu ở máu ngoại vi tăng cao, bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao. Có ổ viêm ở khu vực lân cận.
    5.2.2. Khi sưng cả hai bên cần phân biệt với
    Phì đại tuyến mang tai 2 bên:
    - Không có dấu hiệu bệnh lý như: Sốt, đau tuyến mang tai.
    - Không thấy sưng lên hoặc giảm đi qua theo dõi một số ngày, bệnh đã có từ lâu.
    6. Điều trị
    Không có thuốc đặc trị, chủ yếu điều trị triệu chứng.
    6.1. Thể viêm tuyến mang tai
    - Hạ sốt nếu sốt quá cao, giảm đau (paracetamol), an thần nhẹ (seduxen, rotunda), dùng các vitamin B, C.
    - Súc miệng bằng nước muối 0,9%, dung dịch Axit Boric 5%. Uống nước chanh, cam, ăn lỏng. Nằm nghỉ tại giường, hạn chế đi lại trong thời gian còn sốt, còn sưng tuyến (thường là 7-8 ngày đầu). Cách ly tối thiểu 10 ngày.
    6.2. Thể viêm tinh hoàn
    - Nằm nghỉ tại giường khi còn sưng đau. Mặc si-lip để treo tinh hoàn.
    - Giảm đau: Chườm đá, uống paracetamol 0,5 x 1 viên/lần, cách 6 giờ uống 1 lần, dùng 3-4 ngày. Nếu đau tinh hoàn nặng, dùng paracetamol không đỡ có thể dùng thêm codein với liều 30–60 mg/ngày cho người lớn (chỉ dùng 2-3 ngày) hoặc efferalgan-codein  1 viên/lần x 2-3 lần/ngày.
    - Giảm viêm: Cortanxyl 20-30 mg/ngày, chia 2 lần, uống lúc no, dùng 3-4 ngày.
    - Sau khi tinh hoàn đỡ sưng đau có thể dùng vitamin E 400 mg x 1 viên/ngày, dùng 1-2 tháng để tăng sinh tinh trùng.
    7. Dự phòng
    - Cách ly 10-21 ngày (thường là 10 ngày).
    - Đeo mạng khi tiếp xúc với bệnh nhân.
    - Vắc xin sống giảm hoạt (thường kết hợp với các vác xin khác như sởi...): liều 0,5 ml, tiêm dưới da một lần duy nhất phòng bệnh cho thanh, thiếu niên, nhi đồng chưa có miễn dịch (đặc biệt cho người chỉ có một tinh hoàn, nghe kém). Vắcxin cho miễn dịch tốt, không có tai biến, bảo vệ được 3-5 năm.
    Tải về
    Chia sẻ

      Hôm nay: Fri Apr 19, 2024 12:00 pm