Thư Viện Y Học

Diễn đàn trao đổi thảo luận kiến thức y học

Welcome to thuvienyhoc.forumvi.com! :: Have a nice day!

    Chấn thương ngực kín

    Share
    avatar
    Admin
    Admin
    Admin

    Tổng số bài gửi : 159
    Join date : 07/11/2014
    Age : 30
    Đến từ : DN

    Chấn thương ngực kín

    Bài gửi by Admin on Mon Nov 10, 2014 10:33 pm

    Tải về
                                 CHẤN THƯƠNG NGỰC KÍN
                                

    I. Định nghĩa :
    Chấn thương ngực kín là những chấn thương gây tổn thương ở thành ngực hoặc các cơ quan trong lồng ngực  nhưng không làm mất sự liên tục của tổ chức  da bao quanh lồng ngực .
    II.Phân loại :
    1.Theo mức độ tổn thương:
              + Chấn thương ngực kín không có tổn thương các cơ quan trong lồng ngực.
              + Chấn thương ngực kín có tổn thương các cơ quan trong lồng ngực.
    Cả hai loại đều có thể kèm theo gẫy xương (thường gặp là xương sườn, ngoài ra cũng có thể gặp gẫy xương ức ,xương đòn ,cột sống...)
    2.Theo nguyên nhân   :
              + Chấn thương ngực do va đập trực tiếp (do cành cây ,gỗ, đá  đập trực tiếp vào thành ngực  hoặc do ngã từ trên cao,đập thành ngực xuống một nền cứng...).
              + Chấn thương ngực do đè ép :ngực bị ép giữa hai lực (nhà đổ ,cây đổ đè lên ngực)
              + Chấn thương ngực do sóng nổ
    III. Giải phẫu bệnh :
    1.Tổn thương thành ngực :
              + Gẫy sườn: hay gặp gãy ở vùng cung sau và giữa. Có hai cơ chế chủ yếu dẫn đến gẫy xương sườn:
              - Gẫy trực tiếp: xương sườn bị gãy ở ngay chỗ lực chấn thương tác động vào nên các đầu gẫy thường chọc vào trong gây tổn thương nhu mô phổi .
              - Gẫy gián tiếp: gặp khi lồng ngực bị ép giữa hai bản cứng làm cho xương sườn bị gãy, ổ gãy không ở chỗ lực ép trực tiếp tác động vào nên các đầu xương gẫy thường hướng từ trong ra ngoài.
    + Mảng sườn di động: khi có ít nhất 3 sườn liền nhau bị gẫy ở cả hai đầu và các ổ xương gẫy ở mỗi đầu nằm gần như trên cùng một đường thẳng thì mới có thể tạo thành mảng sườn di động.Cũng có khi đầu ổ gãy cắm gắn, lúc đầu chưa di động, sau một thời gian do bệnh nhân cử động hay ho mạnh, đầu cắm gắn bật ra và trở thành di động thực sự. Theo vị trí có thể chia ra 3 loại:
    - Mảng sườn bên: nằm giữa xương ức và đường nách giữa. Loại này di động nhiều.
    - Mảng sườn trước: bao gồm cả xương ức nên tiên lượng rất nặng
    - Mảng sườn sau: nằm giữa cột sống và đường nách giữa .
    + Tổn thương các mạch máu của thành ngực :
    Thường gặp thương tổn bó mạch liên sườn ở ngay ổ gẫy xương sườn hoặc có thể tổn thương mạch máu ở mặt trong thành ngực (mạch vú trong ,các mạch nối giữa các mạch máu liên sườn…).
    2. Khoang màng phổi:
    + Tràn máu khoang màng phổi: máu tràn vào khoang màng phổi có thể từ các tổn thương của xương, mạch máu ở thành ngực hoặc nhu mô phổi. Mức độ tràn máu có thể Nhẹ, Vừa hay Nặng.
    + Tràn khí khoang màng phổi: khí tràn vào khoang màng phổi có thể từ các  tổn thương nhu mô phổi hoặc phế quản. Mức độ tràn khí có thể là Nhẹ, Vừa hay Nặng.
    3.Tổn thương nhu mô phổi :
    + Rách hoặc Vỡ nhu mô phổi: có thể vỡ nông ngay trên bề mặt phổi (hay gặp ) hoặc có thể vỡ ở trong nhu mô phổi (ít gặp song rất nặng). Rách và Vỡ nhu mô phổi là do tăng áp lực đột ngột trong đường hô hấp khi bị chấn thương hoặc do những đầu xương sườn gãy chọc vào nhu mô phổi
    + Chẩy máu trong phổi : có hai loại
    - Chẩy máu lan toả : do thương tổn nhiều mạch máu nhỏ, thường ở cả hai bên phổi .
    - Chẩy máu thành khối: do tổn thương một mạch lớn trong nhu mô phổi, khối màu tụ về sau có thể bị bội nhiễm hoặc tạo thành nang.
    + Phổi bị ép: do khoang màng phổi bị tràn máu hoặc tràn khí làm cho nhu mô phổi bị ép về phía rốn phổi.
    + Xẹp phổi: thường do rách, vỡ phế quản hoặc tắc nghẽn đường thở bởi ứ  trệ các chất xuất tiết hoặc xẹp phổi do phản xạ.
    + Trong chấn thương ngực do sóng nổ: phổi bị những tổn thương đặc biệt do  sóng xung kích tác động vào đường thở và phế nang đang chứa đầy khí. Trong tổ chức phổi có những tổn thương đa dạng, từ ổ xung huyết nhỏ tới những đám xuất huyết lớn, kèm theo dãn hoặc vỡ phế nang, vỡ phế quản, xẹp phổi...
    4. Tổn thương khí-phế quản:
    + Tổn thương khí quản : ít gặp.
    + Tổn thương phế quản gốc: có thể gặp vỡ phế quản gốc theo chiều ngang hay chiều dọc.
    + Tổn thương phế quản nhỏ: có thể gây ra tràn khí trung thất, tràn khí màng phổi, tràn khí khoang kẽ, tràn khí dưới da ...
    5. Tổn thương các cơ quan khác trong lồng ngực .
    + Tổn thương tim: Vỡ thành tim là nặng nhất, ngoài ra còn có thể gặp rách hay vỡ vách tim, van tim (nhất là van động mạch chủ )
    + Tổn thương các mạch máu lớn: có thể gặp đứt, rách các mạch máu của tiểu tuần hoàn cũng như của đại tuần hoàn, kể cả động mạch chủ (hay gặp ở vùng eo động mạch chủ ).
    + Tổn thương cơ hoành: hay gặp tổn thương vòm hoành bên trái (86%). Sau khi bị chấn thương (thường là chấn thương mạnh gây tăng đột ngột áp lực ổ bụng làm rách cơ hoành hoàn toàn hay không hoàn toàn), ổ bụng có áp lực cao hơn sẽ đẩy các tạng trong ổ bụng qua chỗ cơ hoành tổn thương vào lồng ngực, gây ra thoát vị cơ hoành. Các tạng thoát vị có thể là dạ dày, ruột, mạc nối lớn, lách...
    + Vỡ thực quản : Hiếm gặp. Thường bị vỡ ở đoạn 1/3 dưới. Vỡ thực quản thường gây tình trạng viêm lan toả ở trung thất, tiên lượng rất nặng .
    + Vỡ ống ngực : Gây tràn dưỡng chấp màng phổi
    IV. Sinh lý bệnh :
    1. Rối  loạn hô hấp :
    + Hoạt động chức năng của cơ quan hô hấp bị rối loạn nặng:
    - Trung tâm hô hấp bị ức chế: do chấn thương, nhất là khi có chấn thương sọ não kèm theo.
    - Thành ngực giảm khả năng giãn nở: do gãy xương sườn, tổn thương cơ thành ngực, bệnh nhân không dám thở mạnh vì đau…
    - Khoang màng phổi bị rối loạn hoạt động chức năng do bị Tràn máu và Tràn khí.
    - Nhu mô phổi bị giảm dung tích (do phổi bị ép hay bị xẹp) và giảm khả năng trao đổi khí qua màng phế nang-mao mạch (do bị phù nề, xung huyết sau chấn thương).
    - Đường thở bị ùn tắc do co thắt, tăng tiết sau chấn thương đồng thời giảm khả năng ho khạc của bệnh nhân (do đau).
    + Khi có mảng sườn di động thì sẽ xảy ra các tình trạng:
    - Hô hấp đảo chiều: khi thở vào, áp lực trong khoang màng phổi giảm xuống sẽ kéo mảng sườn vào trong, ép lên phổi bên tổn thương làm cho một lượng khí bị đẩy ra khỏi phổi này. Khi thở ra các hiện tượng trên xảy ra theo hướng ngược lại. Kết quả là có một lượng khí chạy luẩn quẩn trong đường thở mà không tham gia trao đổi khí, làm giảm thể tích khí lưu thông đồng thời cản trở quá trình trao đổi khí trong phổi.
    - Lắc lư trung thất: khi hít vào, mảng sườn di động ép lên phổi bên tổn thương và đẩy trung thất lệch sang bên phổi lành. Khi thở ra, mảng sườn di động không ép lên phổi bên tổn thương nữa nên trung thất sẽ di chuyển về phía bên phổi tổn thương. Tình trạng trung thất bị dịch chuyển  lắc lư như vậy sẽ kích thích các trung tâm phản xạ của tim, phổi và làm các mạch máu lớn ở nền tim bị xoắn vặn, dẫn đến các rối loạn nghiêm trọng về tuần hoàn, có thể gây ngừng thở hay ngừng tim do phản xạ.
    + Khi có tràn khí màng phổi van: khí tràn vào khoang màng phổi theo một chiều (không thoát ra theo hướng ngược lại được) qua vết tổn thương ở phổi hay phế quản (van trong) làm cho áp lực trong khoang màng phổi tăng dần lên, chèn ép phổi, tim, các mạch máu lớn trong trung thất, dẫn đến những rối loạn rất nặng và cấp tính về hô hấp và tuần hoàn.
    2. Rối loạn tuần hoàn :
    + Tim và màng tim:
    - Bị chèn ép do tràn máu,tràn khí màng phổi hay do bản thân tim và màng tim bị tổn thương gây tràn máu màng ngoài tim.
    - Tăng gánh tim phải do nhu mô phổi bị phù nề,chèn ép.
    - Thiếu máu cơ tim do tim phải đập nhanh đáp ứng lại tình trạng thiếu ôxy và giảm khối lượng máu lưu hành của cơ thể.
    + Hệ thống mạch máu: các mạch máu lớn trong trung thất có thể bị chèn ép do tràn máu,tràn khí màng phổi,bị xoắn vặn do lắc lư trung thất...Các mạch ngoại vi thường bị co thắt do Sốc chấn thương.
    + Khối lượng máu lưu hành: bị giảm do mất máu.
    + Tim và màng tim:
    - Bản thân tim và màng tim có thể bị vết thương nặng, bị tràn máu màng ngoài tim…
    - Tim bị chèn ép do tràn máu, tràn khí khoang màng phổi.
    - Tăng gánh tim phải do nhu mô phổi bị phù nề, chèn ép.
    - Thiếu máu cơ tim do tim phải đập nhanh đáp ứng lại tình trạng thiếu ôxy và giảm khối lượng máu lưu hành của cơ thể.
    + Hệ thống mạch máu:
    - Các mạch máu lớn trong trung thất có thể bị chèn ép do tràn máu,tràn khí màng phổi,bị xoắn vặn do lắc lư trung thất...
    - Các mạch ngoại vi thường bị co thắt do Sốc chấn thương.
    + Khối lượng máu lưu hành: bị giảm do mất máu.
    3. Sốc :
    Các rối loạn Hô hấp và Tuần hoàn nói trên tác động lẫn nhau tạo nên vòng xoắn bệnh lý làm bệnh ngày càng nặng, kết hợp với tình trạng đau đớn do chấn thương và các kích thích phản xạ thần kinh ở phổi, màng phổi, trung thất...sẽ nhanh chóng dẫn tới Sốc chấn thương. Ngoài ra, những tổn thương phối hợp (sọ não, bụng, tứ chi ...) làm cho tình trạng Sốc của bệnh nhân càng nặng thêm
    VI. Triệu chứng chẩn đoán:
    1. Khám lâm sàng:
              + Hỏi bệnh  (hỏi nạn nhân hoặc người hộ tống ):
              - Thời gian, hoàn cảnh, cơ chế xảy ra tai nạn.
              - Những dấu hiệu ban đầu : Ngất, khó thở, ho ra máu, đau chói ở ngực bên bị thương.
    + Khám toàn thân: phải nhanh chóng khám xác định các triệu chứng quan trọng để đánh giá ngay mức độ Sốc, Suy tuần hoàn và Suy hô hấp cấp.
    - Tình trạng ý thức: tỉnh táo hay lơ mơ, vật vã, hôn mê.
    - Mạch nhanh, nhỏ. Huyết áp tụt. Thân nhiệt giảm. Da và niêm mạc nhợt nhạt ,toát mồ hôi lạnh...
    - Nhịp thở nhanh và nông. Tiếng thở thô, có tiếng khò khè do tăng xuất tiết và ứ trệ trong khí phế quản. Rút lõm hõm trên ức và các khoang liên sườn khi thở vào. Dấu hiệu cánh mũi phập phồng...
    + Khám lồng ngực: chú ý phát hiện các tổn thương hay gặp sau:
              - Gãy xương sườn: có điểm biến dạng,ấn đau chói và dấu hiệu“lạo sạo xương”tại ổ gãy.
              - Tràn khí dưới da: có thể nhìn thấy vùng thành ngực, cổ, mặt bị phồng lên, biến dạng. Sờ thấy dấu hiệu “lép bép” dưới da.
              - Tràn khí khoang màng phổi: lồng ngực căng vồng, gõ vang, rì rào phế nang giảm hoặc mất, rung thanh giảm.
              - Tràn dịch (máu) khoang màng phổi: lồng ngực căng vồng, gõ đục, rì rào phế nang giảm, rung thanh giảm.
    - Tràn khí- máu khoang màng phổi: phần ngực phía trên có triệu chứng tràn khí còn phần ngực phía dưới có triệu chứng của tràn máu khoang màng phổi.
              - Diện đục tim thay đổi: to ra khi có tràn máu màng ngoài tim, bị dịch chuyển sang bên đối diện khi có chèn ép do tràn máu hay tràn khí màng phổi.    + Một số tổn thương ít gặp cần chú ý:
              - Tràn khí trung thất: khó thở ,tĩnh mạch cổ nổi to và căng, có dấu hiệu “lép bép” do tràn khí dưới da ở vùng mặt ,cổ và hõm trên xương ức .
    - Tràn khí màng phổi van: ngoài các triệu chứng tràn khí khoang màng phổi đã nói trên còn có thể khám thấy: nghe có tiếng rít do khí đi qua vết tổn thương trong phổi ở bên ngực tổn thương,vùng đục của tim và trung thất bị lệch sang bên lành,chọc hút khoang màng phổi thấy khí ra với áp lực cao,toàn trạng bệnh nhân nặng do suy hô hấp và tuần hoàn cấp.
    - Mảng sườn di động : khi hít vào thì chỗ tổn thương lõm xuống, ngược lại, khi thở ra thì chỗ tổn thương lại lồi lên, tạo nên một cử động ngược chiều với lồng ngực (hiện tượng này thấy rõ nhất khi bệnh nhân ho, hoặc thở sâu). Kèm theo bệnh nhân thường có Suy hô hấp và Tuần hoàn nặng. Có trường hợp một mảng sườn di động lúc đầu ở tình trạng cắm gắn, sau một thời gian bệnh nhân vận động hay ho khạc mạnh nên mảng sườn trở thành di động thực sự, gây các triệu chứng suy hô hấp cấp tính.
    - Thoát vị cơ hoành sau chấn thương ngực: thường rất khó được chẩn đoán xác định ngay từ đầu, phần lớn là được phát hiện ra khi mổ cấp cứu để xử trí các tổn thương ở bụng hoặc ở ngực. Có thể thấy các triệu chứng chèn ép trung thất như: khó thở, đau tức bên vùng ngực tổn thương, loạn nhịp tim, tím tái, sốc...Có thể có triệu chứng tắc ruột do quai ruột bị nghẹt ở vết rách cơ hoành khi chúng chui vào lồng ngực.
    + Khám các tổn thương phối hợp: cần phải chú ý tìm và không bỏ sót các chấn thương sọ não, bụng, cột sống, tứ chi ...
    3. Các khám xét cận lâm sàng:
    + Xquang : Là xét nghiệm rất có giá trị trong chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân bị chấn thương ngực.
    - Soi X quang: Xem được nhiều góc độ ,đánh giá được tình trạng động của các cơ quan trong lồng ngực (mức độ di động của cơ hoành,tim và trung thất...).
              - Chụp X quang  (thẳng và nghiêng,bệnh nhân ở tư thế đứng hoặc nửa ngồi): Có thể phát hiện được các hình ảnh tràn khí dưới da, các tổn thương xương (xương sườn,xương đòn,cột sống...),mức độ  tràn dịch,tràn khí khoang màng phổi,hình ảnh phổi bị ép hay xẹp,hình giãn rộng của bóng tim,hình tràn khí trung thất,hình trung thất bị di lệch hoặc mở rộng,hình ảnh thoát vị cơ hoành sau chấn thương...
    + Xét nghiệm máu: số lượng bạch cầu ,hồng cầu ,công thức bạch cầu,huyết sắc tố ,hematocrite ,nhóm máu (khi nghi ngờ có chẩy máu trong ,cần xét nghiệm máu nhiều lần để theo dõi).
    + Ghi điện tim: đánh giá tình trạng hoạt động của cơ tim.Trong trường hợp có tổn thương tim và tràn máu màng tim,ngoài các biểu hiện thiếu máu cơ tim còn thấy biên độ các sóng giảm thấp...
    + Chọc hút thăm dò khoang màng phổi: có ý nghĩa quyết định trong chẩn đoán tràn máu và tràn khí khoang màng phổi.
    VII. Điều trị :
    1. Các biện pháp điều trị chung:
              + Cấp cứu chống Sốc,Suy hô hấp và Suy tuần hoàn: mục đích trước hết là phục hồi ngay chức năng Hô hấp và Tuần hoàn.
    - Đảm bảo thông suốt đường hô hấp: đặt tư thế dễ thở,hút sạch miệng,hầu họng và khí phế quản (nếu cần có thể dùng đèn soi thanh quản,đặt ống nội khí quản hoặc mở khí quản để hút và giữ lưu thông đường thở).
              - Đảm bảo lượng Oxy và khí trao đổi trong phổi: cho thở Oxy,nếu cần thì cho thông khí phổi nhân tạo.
              - Phục hồi khối lượng máu lưu hành: truyền dịch,truyền máu,trợ tim...
              + Giảm đau: mục đích là giúp bệnh nhân dễ thở,dễ ho và khạc để lưu thông tốt đường thở.Thường dùng các thuốc giảm đau toàn thân không gây ức chế hô hấp.Kèm theo có thể tiến hành phong bế thần kinh liên sườn của sườn bị tổn thương (thường phong bế cả các sườn trên và dưới sườn gãy).
              + Xử lý các tổn thương: Cố định xương sườn gãy, Hút hết dịch và khí khoang màng phổi để phổi nở ra hoàn toàn, Xử lý các tổn thương khác ở lồng ngực cũng như các cơ quan khác...Có khi phải chỉ định mổ để xử trí kịp thời các tổn thương này.
              + Ngoài ra phải dùng Kháng sinh,nâng đỡ toàn trạng...
    2. Điều trị cụ thể :
    a). Điều trị gãy xương sườn:
    Nhìn chung nếu chỉ gẫy đơn giản một vài xương sườn thì chỉ cần cố định sườn gãy bằng băng dính. Cần cố định rộng sang cả các sườn ngay trên và dưới sườn gãy và băng dính cố định phải vượt quá sang vùng khớp ức sườn và khớp sống sườn bên đối diện.
    b). Điều trị mảng sườn di động:
    + Sơ cứu:
    Khi phát hiện mảng sườn di động, cần tìm mọi cách nhanh chóng cố định mảng sườn di động bằng các biện pháp tạm thời như : dùng bàn tay áp chặt lện mảng sườn, cho bệnh nhân nằm nghiêng để đè lên mảng sườn di động, đặt đệm mềm lên vị trí có mảng sườn và băng vòng quanh lồng ngực, dùng kìm có mấu kẹp vào mảng sườn và giữ bằng tay...
    + Các biện pháp cơ bản điều trị mảng sườn di động:    
              - Kết xương sườn bằng kim loại: Dùng đinh Kischner để kết xương sườn hoặc buộc chỉ kim loại qua những lỗ xuyên qua xương
              - Kéo liên tục mảng sườn : thường dùng trong mảng sườn ức di động. Thời gian kéo từ 20-40 ngày .
              - Khâu cố định trên khung : dùng một khung kim loại đặt lên lồng ngực rồi khâu treo các sườn gẫy vào khung đó .
              - Khâu cố định các sườn gẫy vào nhau : Trong trường hợp gẫy 3--4 sườn thì có thể khâu cố định sườn gẫy trên cùng và dưới cùng vào các xương sườn lành ngay cạnh chúng.
              - Thở máy : cho bệnh nhân thở máy liên tục 20-40 ngày để đủ thời gian cho xương sườn gãy liền lại. Khi có tổn thương nhu mô phổi lớn thì không áp dụng được phương pháp này.
    c). Điều trị tràn máu khoang màng phổi:
    Mục đích là phải hút sạch máu trong khoang màng phổi và làm phổi nở ra sát thành ngực.
              + Chọc hút khoang màng phổi:
              - Chỉ định: cho các tràn máu màng phổi mức độ nhẹ và vừa.
              - Vị trí chọc hút: thường chọc ở đường nách giữa (nơi thành ngực mỏng nhất ) tương ứng với liên sườn 6 hay 7, hoặc ở dưới mức dịch khoảng 1-2 khe liên sườn (xác định mức dịch bằng gõ hoặc bằng X quang).
    - Là biện pháp điều trị đơn giản, dễ làm nhưng phải theo dõi chặt chẽ và phải làm nhiều lần mới có thể làm cho phổi nở ra sát thành ngực.
    + Dẫn lưu khoang màng phổi tối thiểu:
    - Chỉ định:
    * Các tràn máu màng phổi mức độ vừa và nặng.
    * Đã chọc hút màng phổi nhiều lần nhưng không đạt kết quả tốt (vẫn còn nhiều dịch máu trong khoang màng phổi, phổi không nở ra được hoàn toàn…).
    - Vị trí đặt dẫn lưu: thường đặt dẫn lưu ở liên sườn 6 trên đường nách giữa. Dùng ống dẫn lưu đủ to (đường kính khoảng 1 cm) và không quá mềm hoặc quá cứng. Hút liên tục với áp lực từ  -20 đến  -40 cm H2O trong khoảng 48 giờ để đảm bảo hút hết dịch máu và làm phổi nở ra hoàn toàn.
    - Là biện pháp điều trị triệt để hơn chọc hút, làm cho phổi nở ra sát thành ngực nhanh hơn, qua ống dẫn lưu có thể theo dõi được tiến triển của chảy máu trong ngực. Nhưng phương pháp này đòi hỏi phải làm ở những cơ sở điều trị có điều kiện vô khuẩn tốt, có máy hút liên tục và được theo dõi chặt chẽ.
    + Mổ nội soi lồng ngực:
    - Chỉ định:
              * Tràn máu màng phổi tái diễn nhanh sau khi đã chọc hút hay dẫn lưu màng phổi tối thiểu, toàn trạng bệnh nhân biểu hiện mất máu nặng cấp tính.
              * Máu màng phổi đông: chọc hút hay dẫn lưu khoang màng phổi đều không có kết quả.
              - Kỹ thuật: sử dụng phương pháp nội soi lồng ngực để xử trí cầm máu các mạch máu đang chảy trong lồng ngực hoặc lấy bỏ máu màng phổi đông.
              - Là biện pháp điều trị hiện đại, có hiệu quả tốt nhưng đòi hỏi phải có phương tiện và dụng cụ đầy đủ.
              + Mở ngực xử trí:
              - Chỉ định:
              * Các trường hợp đã mổ nội soi lồng ngực để cầm máu nhưng không thành công.
              * Tràn máu màng phổi tái diễn nhanh hoặc Máu màng phổi đông nhưng không có điều kiện tiến hành mổ nội soi lồng ngực.
              - Tiến hành: thường mở ngực đường trước bên qua liên sườn 5 dưới gây mê nội khí quản. Tuỳ tình trạng các tổn thương mà có thể tiến hành: cầm máu các mạch máu đang chảy, khâu lại nhu mô phổi tổn thương, cắt thuỳ phổi bị tổn thương đang chảy máu nặng, lấy bỏ máu cục đông…
    d). Điều trị tràn khí khoang màng phổi:
              Mục đích là hút hết khí trong khoang màng phổi và làm phổi nở ra hoàn toàn.
              + Chọc hút khoang màng phổi:
    - Chỉ định: tràn khí màng phổi mức độ nhẹ và vừa.
    - Vị trí chọc hút: thường chọc vào khoang liên sườn 2 trên đường giữa đòn. Có thể chọc hút nhiều lần để hút hết khí và để phổi nở ra hoàn toàn.
    + Dẫn lưu khoang màng phổi tối thiểu:
    - Chỉ định:
    * Khi chọc hút màng phổi không đạt kết quả tốt (vẫn không hết khí khoang màng phổi và phổi không nở ra được hoàn toàn)
    * Tràn khí màng phổi mức độ vừa hoặc nặng.
    - Vị trí đặt dẫn lưu: thường đặt vào khoang liên sườn 2 trên đường giữa đòn. Dùng ống dẫn lưu to, mềm vừa phải. Hút liên tục trong 48 tiếng để phổi nở ra hoàn toàn và dính vào thành ngực.
    + Mổ nội soi lồng ngực:
    - Chỉ định: tràn khí màng phổi tái lập nhanh sau khi đã chọc hút hay dẫn lưu khoang màng phổi (thường do các tổn thương gây rò khí từ nhu mô phổi hay phế quản khá to, không tự bịt lại được).
    - Kỹ thuật: sử dụng phương pháp nội soi lồng ngực để tiến hành khâu lại các chỗ tổn thương ở nhu mô phổi và phế quản. 
    + Mở ngực xử trí:
    - Chỉ định:
    * Các trường hợp tràn khí màng phổi tái lập nhanh nhưng không có điều kiện mổ nội soi lồng ngực.
    * Các trường hợp đã mổ nội soi lồng ngực để xử trí tràn khí màng phổi nhưng không thành công.
    - Tiến hành: thường mở ngực đường trước bên qua liên sườn 5 dưới gây mê nội khí quản. Tuỳ tổn thương mà có thể thực hiện: khâu đóng lại tổn thương ở nhu mô phổi hay phế quản, cắt thuỳ phổi bị tổn thương quá nặng…
    e). Điều trị các tổn thương khác:
              + Tràn khí dưới da : thường không cần điều trị gì đặc biệt.Những trường hợp tràn khí dưới da quá nhiều thì có thể tiến hành rạch các đường qua da vào tổ chức dưới da để khí có thể thoát bớt ra ngoài.
              + Tràn khí trung thất: nếu có biểu hiện chèn ép thì có thể rạch dẫn lưu khí trên xương ức.Nếu có vỡ rách đường thở trên thì phải mở khí quản để vừa có tác dụng dẫn lưu khí trung thất ,vừa hạn chế khí rò ra từ  chỗ tổn thương.              - Tràn máu màng tim :Nếu có biểu hiện chèn ép tim nặng và cấp tính thì có thể chỉ định chọc hút màng tim,đồng thời nghiên cứu khả năng mở ngực cấp cứu để xử trí tổn thương tim.
              + Tràn khí màng phổi van : phải cấp cứu tối khẩn cấp,dùng kim lớn chọc vào khoang liên sườn 2 đường giữa đòn,nối kim với van dẫn lưu khí một chiều (thường làm bằng một ngón găng tay mổ có rạch một chỗ ở đầu ngón) nhằm nhanh chóng làm giảm áp lực khoang màng phổi. Sau đó theo dõi và nghiên cứu chỉ định mổ cấp cứu khâu đóng chỗ rách ở phổi và phế quản.
              + Rách vỡ cơ hoành gây thoát vị cơ hoành: phải chỉ định mổ cấp cứu.Thường mổ đường bụng để đưa các tạng thoát vị trở lại ổ bụng và khâu lại vết tổn thương cơ hoành.
              + Vỡ thực quản: có chỉ định mở thông dạ dầy nuôi dưỡng và dẫn lưu thực quản ra ngoài
    + Chấn thương ngực do sóng nổ : Cần chống sốc (chú ý nếu truyền nhiều dịch sẽ tăng phù nề ở phổi). Đảm bảo lưu thông tốt đường thở.Thở Oxy và nếu cần phải cho hô hấp hỗ trợ. Dùng kháng sinh để phòng chống nhiễm khuẩn. Trong những trường hợp nặng thì điều trị rất khó khăn và phức tạp.                  -
    g). Điều trị các tổn thương phối hợp (sọ não,bụng,tứ chi...):
    Nhiều khi các tổn thương này cũng rất nặng đòi hỏi phải có sự phối hợp điều trị cấp cứu của nhiêù chuyên khoa cùng một lúc.
    Tải về
    Chia sẻ

      Hôm nay: Sat Nov 25, 2017 12:38 pm